Although well known As a symbol of Vietnamese culture, people may not know that the Vietnamese Áo Dài has an exciting journey of more than 270 years with memorable milestones

With almost 270 years in the making; it can be said that Áo Dài is genuinely a cultural symbol of the Vietnamese people. Let’s take a look at the memorable milestones of the costume full of Vietnamese national spirit.

Since when has Áo Dài come to life?

The majority of Vietnamese commonly understand that the most accurate depiction of the modern Ao Dai started to appear from the late 19th century of the Nguyễn Dynasty, although few are aware that the predecessor of the Áo Dài was Áo Giao Lĩnh that first appeared in the years of 38 – 42 AD which, According to historical records, was most commonly associated with women’s ordinary costume. 

Áo Giao Lĩnh is also known as Áo Đối Lĩnh that is sewn in wide format, having both sides slipping, wide wrists, and body parts ending with heels. Áo Giao Lĩnh’s body part is sewn with four fabrics combined with a colored belt and a black skirt. Áo Giao Lĩnh has a cross-collar form , similar to Áo Tứ Thân.

In particular, this is the costume worn by three famous female generals, first by the two Mrs. Trưng, then by Mrs. Triệu, during the battles against the invaders at that time.

When wearing Áo Tứ Thân, the woman uses three different layers: the outermost is four pieces of evenly divided fabric, followed by a blouse, and the innermost is a camisole. The outer layer of Áo Tứ Thân is long from the neck to the knee; the bar behind the longitudinal edge is sewn to make a form for the back of the shirt. Inside, women wear camisoles, older women wear dark camisoles, and younger women wear red ones. When wearing Áo Tứ Thân, it is always accompanied by a belt made of silk or a “Scepter” used to hold money and small trinkets. This is also the detail that makes Áo Giao Lĩnh and Áo Tứ Thân similar.

According to some historical documents, under the reign of King Gia Long (1806 – 1820), Áo Giao Lĩnh was changed and officially became Áo Ngũ Thân by the request of the Royal Family. This design consists of 2 flaps in the back, two flaps in the front, and a hidden flap in the front. This is also a pioneering design in the waist slipping, a detail that has been kept until now. Unlike today, the Áo Ngũ Thân was short and wide for being convenient in life. This also gradually became the costume of mandarins and aristocrats to distinguish them from the rest of the lower classes of society at that time, whether male or female.

Innovation brings a new breeze to Vietnamese Áo Dài.

At the beginning of the 20th century, under the Western influence on domestic fashion, Áo Dài officially changed after nearly 100 years of appearance by a Hanoi designer named Nguyễn Cát Tường, with nickname Le Mur.

 

He is the one who reduced the size of Áo Dài to create a body-fitting design. Le Mur also added other details, such as pushing the shoulder blades and stretching the sleeves to touch the ground with more beautiful colors. With only four years of popularity, the Vietnamese Áo Dài style has become sophisticated, sexy, attractive, and received attention in society. 

However, in the late 50s, Áo Dài was again transformed by Mrs. Trần Lệ Xuân, also known as Mrs. Nhu beside her husband Ngô Đình Nhu. She cleverly changed the design of Áo Dài with a V-neck showing off the elegant neck, shoulders, and collarbones of Vietnamese women, and at the same time used gloves – a Western fashion accessory to raise the feminine spirit. 

Rising above all odds and shining bright as a cultural symbol of Vietnamese people.

Over time, Áo Dài has changed and was more popularly adopted in the South of Vietnam during the 70s – 80s. In the 1960s, Dung tailors in the Dakao district, Saigon city, introduced the hand-assembled raglan method for their new Áo Dài. With this assembly, the sleeves are connected from the slanted neck to the armpit. The front hem connects to the back hem through a row of buttons from the neck down to the armpit and along one side. This assembly-type minimizes the armpits’ wrinkles, allows the shirt to fit snugly according to the wearer’s curves, and helps women move their hands freely and flexibly. The style of the Vietnamese Áo Dài has been revolutionized from this point onward!

And this design is almost preserved throughout modern times as a standard of Vietnamese women’s Áo Dài. Of course, during its existence, Áo Dài also has newer innovative variations but is not far too different from the original ones. This costume is known as one of the most beautiful traditional costumes in Southeast Asia, in particular, and the globe, in general. 

With a history of nearly three millennia, Áo Dài carries the quintessence in culture and pure fashion spirit with a glorious history of Vietnamese aesthetic wear. What do you think about Vietnamese Áo Dài?

Source: collected and edited by Áo Dài Canada.

Là biểu tượng của văn hoá Việt Nam, ít ai có thể biết được rằng chiếc Áo Dài Việt đã có cho mình 1 hành trình phát triển hơn 270 với nhiều cột mốc đáng nhớ. 

Với bề dày gần 3 thiên niên kỷ, có thể nói Áo Dài đích thị là một trang phục mang tính biểu tượng văn hóa của người Việt. Hãy cùng Áo Dài Canada điểm qua những cột mốc đáng nhớ của món quốc phục đầy hồn thơ của người Việt. 

Áo Dài xuất hiện từ khi nào? 

Đại đa số con dân đất Việt đều biết rằng hình tượng Áo Dài xác thực nhất đã Xuất hiện từ cuối thế kỉ 19 triều đại nhà Nguyễn, nhưng chỉ một số ít biết rằng tiền thân của Áo Dài là chiếc áo Giao Lĩnh được xuất hiện lần đầu, theo sử sách ghi lại đây là loại trang phục gắn liền với nữ giới , từ những năm 38 – 42 sau Công Nguyên. 

Áo Giao Lĩnh còn được gọi là áo Đối Lĩnh, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ tay rộng, thân dài chấm gót. Thân áo được may bằng 4 tấm vải kết hợp mặc cùng thắt lưng màu và váy đen. Đây là kiểu áo cổ chéo gần giống với áo Tứ thân.

Đặc biệt, đây là trang phục được  3 vị nữ tướng, trước là Hai Bà Trưng và sau là Bà Triệu  ,mặc xuyên suốt trận chiến chống quân xâm lược.
Khi mặc áo Tứ Thân, người phụ nữ sử dụng ba lớp: ngoài cùng là 4 mảnh vải chia đều, tiếp đến là áo cánh và trong cùng là áo yếm. Lớp ngoài áo dài từ cổ xuống đầu gối, phần thanh sau mép dọc được khâu liền tạo thành sống lưng cho áo. Bên trong phụ nữ mặc áo yếm, với phụ nữ lớn tuổi thì sử dụng áo yếm màu đậm và phụ nữ trẻ thì mặc màu đỏ. Khi mặc áo tứ thân luôn kèm với chiếc thắt lưng làm từ vải lụa hay cái “ruột tượng” được dùng để đựng tiền và đồ vặt nhỏ. Đây cũng là chi tiết khiến cho Áo Giao Lĩnh và Áo Tứ Thân có phần tương đồng. 

Theo một số sử sách, đến thời vua Gia Long (1806 – 1820), chiếc áo Giao Lĩnh được thay đổi và chính thức trở thành Áo Ngũ Thân dưới sự yêu cầu của Hoàng Gia. Thiết kế này bao gồm các phần: 2 tà ở phía sau, 2 tà ở phía trước và một tà ẩn ở phía trước. Đây cũng là chiếc váy tiên phong trong việc xẻ tà ở eo, một chi tiết được giữ nguyên đến hiện tại. Không giống như hiện nay, thời bấy giờ Áo Ngũ thân có phom dáng rộng, ngắn để tiện lợi cho sinh hoạt. Đây cũng dần trở thành trang phục của một bộ phận quan lại, quý tộc nhằm phân biệt với các tầng lớp thấp còn lại của Xã hội thời bấy giờ dù là Nam hay Nữ. 

Cách tân mang lại làn gió mới cho Áo Dài Việt. 

Đến đầu thế kỉ 20, dưới sự tác động của văn hóa phương Tây lên văn hóa thời trang nội địa, Áo Dài chính thức có sự thay đổi sau gần 100 năm xuất hiện dưới sự cách tân của một nghệ sĩ người Hà Nội mang tên Nguyễn Cát Tường, biệt danh là Le Mur. 

Ôngchính là người đã thu gọn kích thước áo dài để tạo sự ôm sát cơ thể và cũng đồng thời thêm thắt 1 số chi tiết khác như đẩy cầu vai, kéo dài tà áo chạm đất cùng với các sắc màu đẹp mắt hơn. Chỉ với 4 năm phổ biến, phong cách Áo Dài Việt Nam đã trở nên tinh tế, gợi cảm, thu hút và nhận được sự quan tâm trong xã hội nhấn mạnh cho phụ nữ. 

Tuy nhiên đến những năm cuối thập niên 50, chiếc Áo dài một lần nữa lại có sự biến đổi bởi bà Trần Lệ Xuân hay còn gọi là Madame Nhu, theo tên của chồng là Ngô Đình Nhu. Bà đã khéo léo thay đổi thiết kế áo dài với cổ chữ V khoe trọn chiếc cổ, bờ vai cùng xương quai xanh nho nhã của phụ nữ Việt, đồng thời sử dụng thêm găng tay – một phụ kiện thời trang phương Tây để nâng tầm thiết kế. 

Vượt qua giông tố và tỏa sáng như một biểu tượng văn hóa người Việt. 

Vượt qua những dị nghị, chiếc Áo Dài tiếp tục có những sự thay đổi và du nhập vào miền Nam Việt Nam vào thập niên 70 – 80. Những năm 1960, nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn đã đưa cách ráp tay raglan vào áo dài. Với cách ráp này, tay áo được nối từ cổ xéo xuống nách. Tà trước nối với tà sau qua hàng nút bấm từ cổ xuống nách và dọc theo một bên hông. Kiểu ráp này vừa giảm thiểu nếp nhăn ở nách, cho phép tà áo ôm khít theo đường cong người mặc, vừa giúp người phụ nữ cử động tay thoải mái, linh hoạt. Kiểu dáng chiếc áo dài Việt Nam đã được định hình từ đây!

Và thiết kế này gần như được giữ nguyên đến thời hiện đại như một chuẩn mực của chiếc Áo Dài của phái đẹp Việt. Tất nhiên trong quá trình tồn tại đến nay, chiếc Áo Dài cũng có những biến thể Cách Tân mới nhưng không quá khác biệt và được  công nhận là một trong những trang phục truyền thống đẹp mắt ở khu vực Đông Nam Á nói riêng và toàn Thế giới nói chung. 

Mang trong mình một bề dày lịch sử gần 3 thiên niên kỉ, Áo Dài thật sự mang trong mình sự tinh hoa không chỉ về mặt văn hóa, thời trang thuần túy mà còn cả một trang lịch sử huy hoàng về mặc thẩm mỹ của người Việt. Còn bạn, bạn nghĩ sao về Áo Dài Việt? 

Nguồn: sưu tầm và biên tập bởi Áo Dài Canada.